Vốn ngoại vào ngân hàng Việt: Mạnh lên cả tiếng lẫn miếng

Nhà đầu tư nước ngoài không ngừng nghỉ chi những khoản lớn, sẵn sàng trả giá cao để mua cổ phần ngân hàng Việt…

Ngày 12/3, Ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) ra mắt tài liệu về khoản đầu tư lên tới hơn 370 triệu USD (tương đương dao động 8.400 tỷ đồng) từ hai nhà đầu tư pháp nhân độc lập được quản lý bởi Warburg Pincus.

Với hơn 370 triệu USD, hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam tiếp tục đâyn khoản đầu tư lớn từ khối ngoại, sau sự trở lại ấn tượng trong năm 2017.

Trước Techcombank, trong năm 2017, phân khúc đã chứng kiến không ngừng nghỉ những thương vụ lớn và thành công từ dòng chảy này, như Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) có 250 triệu USD, Ngân hàng Phát triển Tp.HCM (HDBank) có 300 triệu USD, hay thành viên có diện tích nhỏ hơn là Ngân hàng Tiên Phong (TPBank) có 40 triệu USD.

Thành công, vì đa số những thương vụ này nhà đầu tư nước ngoài đều sẵn sàng trả giá cao, tạo nên những khoản thặng dư lớn mà đã chục năm trôi qua nhiều ngân hàng Việt khó lòng tạo được.

Điểm chung, những thành viên trên đều đâyn vốn ngoại vào “đặt chỗ” trước, chờ triển khai kế hoạch niêm yết cổ phiếu trong bối cảnh phân khúc chứng khoán khởi sắc và sôi động.

Loạt thương vụ trên cũng đã để lại sau lưng 1 dòng chảy ngược cũng vừa có gần 1 năm trước: 1 bộ phận vốn ngoại, trong lĩnh vực ngân hàng, chia tay phân khúc.

Gần 1 năm trước đây, có loạt ngân hàng ngoại thoái vốn…, có nhiều tài liệu bình luận xen lẫn những quan ngại nào đây về phân khúc và tiềm năng đầu tư vào lĩnh vực ngân hàng Việt Nam.

Tuy nhiên, có 1 nguyên do khách quan, nhà đầu tư nước ngoài rút vốn thường cũng chính là định chế tài chính đã và đang thiết lập kinh doanh trực tiếp ở Việt Nam; họ hạn chế nhân tố xung đột trong tranh đua.

Có trường hợp, vốn đảo chiều theo chiến lược kinh doanh toàn cầu của họ nhữngh tân.

Có trường hợp khá ồn ào, nhưng chính ở Techcombank khi cổ đông lớn nước ngoài nói lời chia tay đầu quý 3 năm ngoái.

Bên cạnh những nguyên do trên, 1 người trong cuộc am hiểu cho rằng, vốn ngoại thoái lui khi đây không có gì đáng ồn ào, và rất lẽ thường. Bởi lẽ, có 1 lý do chính ít được nói tới: việc tuân thủ chuẩn mực mới của Basel 3, ngân hàng mẹ phải có dự phòng đối ứng cho những khoản đầu tư ở nước ngoài; cân nhắc giá thành đối ứng này, 1 số trường hợp đã chọn lọc thoái vốn.

Nhưng nay, nối tiếp diễn biến 2017 và khởi động 2018, những khoản đầu tư diện tích lớn cộng mức độ trả giá cao cho thấy 1 bộ phận ngân hàng thương mại Việt Nam đã và đang quyến rũ trong mắt nhà đầu tư ngoại.

Loạt thương vụ trên thậm chí có thể trở thành 1 làn sóng, khi mới đây đã có nhà đầu tư “đánh tiếng” kế hoạch đến có 1 ngân hàng thương mại nhà nước đã cổ phần hóa; hay cả tình huống nới “room” có cho nhà đầu tư nước ngoài được hâm nóng trong những dòng chảy tài liệu gần đây…

Dễ thấy, song song có những khoản đầu tư lớn, thặng dư lớn, “cái tiếng” về chất lượng những ngân hàng thương mại Việt Nam nhìn chung cũng liên tục được cải thiện, nâng hạng thời gian gần đây.

Cùng có hạng mức tín nhiệm quốc gia, trong năm 2017 và đầu 2018, những tổ chức như S&P, Moody’s và ngay đầu tháng 3 này là Fitch đều đã lần lượt nâng hạng 1 số ngân hàng thương mại Việt Nam theo những chỉ tiêu cụ thể.

Sau GĐ đầu tái cơ cấu hệ thống có nhiều gặp khó (2011 – 2015), hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đang ở giữa GĐ hai tái cơ cấu (2016 – 2020) có những nét chuyển động mới và sáng hơn, mà vốn ngoại “gật đầu” nhiều hơn, mạnh hơn có thể xem là 1 kết quả kiểm định.

Bạn đang xem chuyên mục Tai Chinh ở QOV.VN